Thông tư (Circular / Ministerial Circular)
Thông tư là văn bản quy phạm pháp luật do người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước ở cấp trung ương ban hành, bao gồm Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Tổng Kiểm toán nhà nước, nhằm quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; quy định chi tiết thi hành nghị định, quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; hoặc hướng dẫn thực hiện chuyên môn, nghiệp vụ trong phạm vi ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách. Thông tư là hình thức văn bản quy phạm pháp luật phổ biến nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, thuế, kế toán, chứng khoán và các ngành kinh tế kỹ thuật. Toàn bộ thông tư phải được đăng công báo, công khai và có hiệu lực trên phạm vi cả nước theo nguyên tắc thống nhất, trừ trường hợp văn bản ủy quyền hoặc liên tịch có quy định phạm vi hẹp hơn.
Trong nghiệp vụ ngân hàng, thông tư đóng vai trò là cơ sở pháp lý trực tiếp cho hầu hết các hoạt động hàng ngày: từ thông tư hướng dẫn về trần lãi suất huy động, cơ chế điều hành chính sách tiền tệ, tỷ lệ an toàn vốn, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, cho đến thông tư về hoạt động thanh toán, phát hành thẻ, dịch vụ trung gian thanh toán, dịch vụ thông tin tín dụng, quản lý ngoại hối và phòng chống rửa tiền. Mỗi cán bộ tín dụng, giao dịch viên, kiểm soát viên hay chuyên viên quan hệ khách hàng đều cần nắm rõ thông tư nào đang chi phối nghiệp vụ mình phụ trách để đảm bảo tuân thủ quy định và tránh sai sót trong quá trình xử lý.
Phân loại thông tư trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Căn cứ theo chủ thể ban hành và mục đích sử dụng, thông tư được chia thành các loại chính sau đây:
Thông tư hướng dẫn thi hành: Do Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành nhằm quy định chi tiết các điều, khoản, điểm được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, hoặc trong nghị định, quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Đây là loại thông tư phổ biến nhất, ví dụ: Thông tư hướng dẫn thi hành Luật Các tổ chức tín dụng, Thông tư hướng dẫn thi hành Luật Phòng chống rửa tiền, Thông tư hướng dẫn chế độ tài chính cho ngân hàng thương mại.
Thông tư chuyên ngành: Do Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành để hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ quản lý nhà nước trong phạm vi ngành, lĩnh vực được giao. Loại thông tư này không nhằm cụ thể hóa một văn bản luật cụ thể mà tập trung vào quy chế, quy trình nghiệp vụ, chẳng hạn các thông tư về tiêu chuẩn, định mức, quy trình kỹ thuật, nghiệp vụ kiểm toán, hoạt động ngân hàng.
Thông tư liên tịch: Là văn bản do đồng thời hai hoặc ba chủ thể cùng ký ban hành, được áp dụng khi một vấn đề thuộc phạm vi quản lý của nhiều ngành, nhiều cấp. Theo quy định hiện hành, thông tư liên tịch chỉ được ban hành giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, hoặc giữa Chánh án/Viện trưởng với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Trước đây cho phép thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng với nhau, nhưng theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 64/2025 (Điều 4 Khoản 9), hình thức này không còn được thừa nhận; thay vào đó, các Bộ phối hợp ban hành bằng hình thức khác như văn bản thỏa thuận, quy chế phối hợp.
Thẩm quyền ban hành và giới hạn nội dung
Thẩm quyền ban hành thông tư được giới hạn chặt chẽ bởi nguyên tắc "thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực". Cụ thể:
- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ chỉ được ban hành thông tư trong phạm vi ngành, lĩnh vực mà mình phụ trách. Ví dụ: Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành thông tư về thuế, kế toán, kiểm toán; Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành thông tư về hoạt động ngân hàng, tiền tệ, ngoại hối, thanh toán.
- Thông tư không được quy định các nội dung thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; không được trái với hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.
- Thông tư phải được Bộ Tư pháp thẩm định về mặt pháp lý trước khi ban hành (trừ thông tư của Chánh án, Viện trưởng, Tổng Kiểm toán nhà nước).
- Trong trường hợp có nhiều văn bản quy phạm pháp luật cùng điều chỉnh một vấn đề mà có quy định khác nhau, thì áp dụng theo nguyên tắc văn bản ban hành sau có hiệu lực, văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, văn bản chuyên ngành hơn.
Hiệu lực pháp lý và vị trí trong hệ thống pháp luật
Thông tư có hiệu lực pháp lý trên phạm vi cả nước, áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân có liên quan thuộc đối tượng điều chỉnh. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thứ bậc hiệu lực pháp lý được sắp xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp: Hiến pháp → Luật, Nghị quyết của Quốc hội → Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội → Nghị định của Chính phủ → Quyết định của Thủ tướng Chính phủ → Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ → Quyết định của các cơ quan nhà nước khác. Thông tư chỉ có hiệu lực khi được ký ban hành hợp lệ, được đăng Công báo và đến thời điểm quy định trong văn bản có hiệu lực (thường là 10 đến 45 ngày kể từ ngày ký tùy trường hợp). Khi có văn bản mới thay thế hoặc sửa đổi, thông tư cũ sẽ hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần; tổ chức, cá nhân cần thường xuyên cập nhật trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan ban hành.
Trong lĩnh vực ngân hàng, việc nắm rõ thông tư nào còn hiệu lực, thông tư nào đã hết hiệu lực là yêu cầu bắt buộc đối với cán bộ, nhân viên ngân hàng. Sai sót do áp dụng văn bản hết hiệu lực hoặc hiểu sai nội dung thông tư có thể dẫn đến vi phạm quy định, bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc thậm chí chịu trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp.
Câu hỏi thường gặp
Hỏi: Thông tư liên tịch giữa hai Bộ (ví dụ giữa Bộ Tài chính và Bộ Công an) hiện nay có được ban hành không?
Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 64/2025 (Điều 4 Khoản 9), thông tư liên tịch chỉ được ban hành giữa Chánh án TAND tối cao với Viện trưởng VKSND tối cao, hoặc giữa Chánh án/Viện trưởng với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Hình thức thông tư liên tịch giữa hai Bộ trưởng với nhau không còn được quy định. Khi cần phối hợp điều chỉnh vấn đề liên ngành, các Bộ thường sử dụng hình thức văn bản phối hợp, quy chế phối hợp hoặc xây dựng nghị định của Chính phủ.
Hỏi: Nếu thông tư trái với luật hoặc nghị định thì xử lý thế nào, và cá nhân, tổ chức có quyền kiến nghị không?
Khi phát hiện thông tư có nội dung trái với văn bản quy phạm pháp luật cấp trên, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra, kết luận và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành. Cá nhân, tổ chức hoàn toàn có quyền kiến nghị bằng văn bản gửi cơ quan ban hành hoặc Bộ Tư pháp. Trường hợp văn bản trái nghiêm trọng gây hậu quả, người ban hành còn có thể bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm pháp lý theo quy định.
Hỏi: Trong kỳ thi tuyển dụng ngân hàng, thí sinh cần nắm những thông tư nào là trọng tâm để đạt điểm cao phần pháp luật?
Với vị trí giao dịch viên, quan hệ khách hàng, tín dụng, thí sinh nên tập trung vào: các thông tư hướng dẫn về hoạt động thanh toán, phát hành và sử dụng thẻ ngân hàng; thông tư quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro; thông tư về lãi suất, tỷ giá, hoạt động ngoại hối; thông tư về phòng chống rửa tiền và tuân thủ. Với vị trí kế toán, kiểm soát, thêm các thông tư về chế độ kế toán ngân hàng, chế độ báo cáo tài chính. Lưu ý: đề thi thường cập nhật thông tư mới nhất, thí sinh cần kiểm tra hiệu lực và số hiệu chính xác trên Cổng thông tin điện tử của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tài chính trước ngày thi.
Nội dung mang tính tham khảo, được tổng hợp từ các văn bản pháp luật hiện hành, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên nghiệp. Người đọc nên đối chiếu với bản chính thức trên Công báo và Cổng thông tin điện tử của cơ quan ban hành.