Bỏ qua điều hướng

Bẫy thanh khoản (Liquidity Trap) là gì?

Kinh tế vĩ mô

Bẫy thanh khoản (Liquidity Trap)

Bẫy thanh khoản (tiếng Anh: Liquidity Trap) là một trạng thái đặc biệt của nền kinh tế, trong đó lãi suất danh nghĩa đã được Ngân hàng Trung ương (NHTW) đẩy xuống mức cận/khá không (near-zero lower bound), nhưng tổng cầu vẫn yếu và lạm phát dưới mục tiêu. Theo lý thuyết Keynes, khi lãi suất chạm sàn, kỳ vọng của công chúng về lãi suất tương lai chỉ có thể đi lên, nắm giữ tiền mặt trở thành lựa chọn tối ưu so với gửi tiết kiệm hay mua trái phiếu vì chi phí cơ hội của việc giữ tiền gần bằng 0. Hệ quả là chính sách tiền tệ (CSTT) mở rộng thông qua kênh lãi suất (giảm lãi suất để kích cầu) hoàn toàn mất hiệu lực: NHTW có bơm thêm bao nhiêu tiền vào hệ thống ngân hàng thì lượng tiền đó cũng "đọng" lại trong hệ thống tài chính mà không chảy vào đầu tư, tiêu dùng hay sản xuất. Khái niệm này được John Maynard Keynes phát triển trong "The General Theory of Employment, Interest and Money" (1936) và sau đó được Paul Krugson phân tích sâu trong bối cảnh Nhật Bản thập niên 1990.

Điều kiện hình thành bẫy thanh khoản

Một nền kinh tế rơi vào bẫy thanh khoản khi hội tụ đủ bốn điều kiện: (i) lãi suất danh nghĩa ngắn hạn đã chạm mức zero hoặc gần zero và không thể hạ thêm; (ii) tổng cầu suy yếu kéo dài, nền kinh tế đang đối mặt với nguy cơ giảm phát hoặc lạm phát rất thấp; (iii) kỳ vọng lãi suất tương lai chỉ có thể tăng, khiến công chúng ưu tiên nắm giữ tiền mặt; (iv) hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) mất kênh truyền dẫn tín dụng, do doanh nghiệp và hộ gia đình đều không có nhu cầu vay vốn hoặc NHTM thắt chặt cho vay vì nợ xấu cao. Khi cả bốn điều kiện này cùng xuất hiện, đường LM trong mô hình IS-LM trở nên nằm ngang ở phân đoạn lãi suất thấp, nghĩa là dù NHTW dịch chuyển LM sang phải bao nhiêu thì lãi suất cũng không giảm thêm, đầu tư tư nhân không được kích thích và sản lượng vẫn trì trệ.

Vì sao chính sách tiền tệ mất hiệu lực

Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ thông thường hoạt động theo trình tự: NHTW giảm lãi suất chính sách → lãi suất thị trường giảm theo → chi phí vay vốn của doanh nghiệp/hộ gia đình giảm → đầu tư và tiêu dùng tăng → tổng cầu và sản lượng tăng. Tuy nhiên trong bẫy thanh khoản, mắt xích thứ hai bị đứt: vì lãi suất đã ở sàn, kênh lãi suất không còn dư địa tác động; đồng thời kênh tín dụng cũng tắc nghẽn vì nhu cầu vay yếu hoặc NHTM không muốn cho vay. Nói cách khác, NHTW vẫn bơm được thanh khoản vào hệ thống (cung tiền M2 tăng), nhưng cầu tiền tăng đúng bằng, làm lãi suất và sản lượng gần như bất biến. Đây chính là biểu hiện của tính không hiệu quả theo vùng (regional ineffectiveness) của CSTT khi nền kinh tế ở trạng thái suy thoái sâu hoặc suy thoái kéo dài (secular stagnation).

Giải pháp thoát khỏi bẫy thanh khoản

Khi CSTT truyền thống bị tê liệt, các NHTW thường phải phối hợp nhiều công cụ phi chuẩn (unconventional monetary policy) và kết hợp với chính sách tài khóa (CSTK). Thứ nhất, chính sách nới lỏng định lượng (Quantitative Easing - QE): NHTW mua trực tiếp trái phiếu chính phủ dài hạn và các tài sản tài chính khác (chứng khoán được bảo đảm bằng tài sản MBS, trái phiếu doanh nghiệp, thậm chí cổ phiếu ETF), mục tiêu là hạ đường cong lãi suất dài hạn và nâng giá tài sản tài chính, từ đó kích thích tiêu dùng thông qua hiệu ứng giàu có (wealth effect). Thứ hai, chính sách tài khóa mở rộng: chính phủ tăng chi tiêu công (G) hoặc cắt giảm thuế, trực tiếp bơm cầu vào nền kinh tế vì kênh tiền tệ đã không còn hoạt động. Thứ ba, cam kết hướng dẫn phía trước (forward guidance): NHTW công bố sẽ duy trì lãi suất thấp trong một thời gian dài cụ thể, nhằm neo kỳ vọng lạm phát và giảm kỳ vọng tăng lãi suất tức thì. Thứ tư, các công cụ thay thế như cho vay âm lãi suất (negative interest rate policy - NIRP), tài trợ có điều kiện (TLTRO), hoặc kiểm soát tỷ giá kết hợp nhằm ép buộc dòng tiền rời khỏi trạng thái nắm giữ tiền mặt.

Ví dụ thực tế trên thế giới và ý nghĩa cho Việt Nam

Nhật Bản là ca điển hình nhất: từ năm 1999 NHTW Nhật (BoJ) hạ lãi suất chính sách về 0% sau đó duy trì suốt hơn 15 năm, lạm phát liên tục dưới mục tiêu 2%, GDP tăng trưởng trì trệ, BoJ phải áp dụng QE từ 2001 và chuyển sang lãi suất âm (-0,1%) năm 2016. Mỹ là ví dụ thứ hai: sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, Fed hạ lãi suất về 0-0,25% và duy trì đến 2015, đồng thời triển khai ba đợt QE tổng giá trị hơn 4.500 tỷ USD. Eurozone và Anh cũng rơi vào trạng thái tương tự sau 2008, ECB hạ lãi suất tiền gửi âm (-0,4%) và áp dụng QE từ 2015. Đối với Việt Nam, theo các số liệu hiện hành, lãi suất tiền gửi VND vẫn ở mức 4-5%/năm cho kỳ hạn ngắn và 6-7% cho kỳ hạn dài, lạm phát được kiểm soát quanh mục tiêu 4%, nền kinh tế chưa rơi vào bẫy thanh khoản. Tuy nhiên rủi ro cần theo dõi nếu kinh tế toàn cầu suy thoái mạnh kéo tăng trưởng tín dụng trong nước đi xuống dài hạn.

Gợi ý ôn thi tuyển dụng ngân hàng

Khi gặp câu hỏi về bẫy thanh khoản trong đề thi, thí sinh cần nắm vững: (1) định nghĩa và điều kiện hình thành; (2) lý do CSTT mất hiệu lực thông qua phân tích đường LM nằm ngang và cơ chế truyền dẫn CSTT bị đứt; (3) các giải pháp thoát bẫy, trong đó nhấn mạnh vai trò của CSTK và QE; (4) liên hệ thực tế với Nhật Bản, Mỹ, Eurozone. Một dạng câu hỏi thường gặp: "Giả sử NHTW giảm lãi suất nhưng lãi suất không giảm thêm và đầu tư không tăng, hiện tượng này là gì và cần chính sách nào để xử lý?" - câu trả lời: bẫy thanh khoản, cần kết hợp CSTK mở rộng và QE.

Lưu ý: nội dung mang tính tham khảo cho mục đích luyện thi và học tập, không thay thế tư vấn chuyên môn về chính sách kinh tế.

Kiến thức này có trong đề thi tuyển dụng ngân hàng

Luyện thi với đề mô phỏng thực tế, chấm điểm tức thì

T
thithu.com

Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung câu hỏi trên thithu.com chỉ mang tính chất luyện tập và tham khảo, không đại diện cho đề thi chính thức của bất kỳ tổ chức nào. Chúng tôi không chịu trách nhiệm về kết quả thi thực tế của người dùng.