Bỏ qua điều hướng

Thẩm quyền ban hành VBQPPL (Authority to Issue Legal Documents) là gì?

Pháp luật & Hành chính

Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là quyền hạn pháp lý được giao cho các chủ thể cụ thể trong bộ máy nhà nước để ban hành các văn bản có hiệu lực bắt buộc chung, áp dụng đối với nhiều đối tượng, nhiều lần và được Nhà nước bảo đảm thi hành. Thẩm quyền này được xác định tại Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2026. Nguyên tắc cốt lõi là chủ thể chỉ được ban hành VBQPPL trong phạm vi thẩm quyền đã được giao; văn bản của cơ quan cấp dưới không được trái với văn bản của cơ quan cấp trên; văn bản ban hành phải đúng hình thức, trình tự, thủ tục luật định.

Hệ thống VBQPPL và chủ thể có thẩm quyền

Hệ thống VBQPPL Việt Nam được phân thành nhiều tầng, từ văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất đến văn bản ở cấp chính quyền địa phương. Cụ thể:

  1. Hiến pháp — do Quốc hội ban hành, là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật.
  2. Luật, Nghị quyết của Quốc hội — do Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) trình hoặc do đại biểu Quốc hội kiến nghị theo luật định.
  3. Pháp lệnh, Nghị quyết của UBTVQH — UBTVQH ban hành pháp lệnh khi được Quốc hội ủy quyền hoặc giữa hai kỳ họp Quốc hội.
  4. Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước — Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định để thi hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh.
  5. Nghị định, Nghị quyết của Chính phủ — Chính phủ ban hành nhằm cụ thể hóa luật, pháp lệnh.
  6. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ — Thủ tướng ban hành về biện pháp quản lý, điều hành trong phạm vi thẩm quyền.
  7. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) — hướng dẫn áp dụng pháp luật cho tòa án các cấp.
  8. Thông tư — do Chánh án TANDTC, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Tổng Kiểm toán nhà nước ban hành.
  9. Thông tư liên tịch — giữa Chánh án TANDTC với Viện trưởng VKSNDTC hoặc giữa các chủ thể nêu trên với Bộ trưởng.
  10. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh — ban hành theo thẩm quyền để cụ thể hóa luật, nghị quyết của Quốc hội tại địa phương.
  11. Quyết định của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh — thi hành Hiến pháp, luật, văn bản cấp trên tại địa phương.
  12. Quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh — bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 87/2025/QH15.
  13. Nghị quyết HĐND, Quyết định UBND, Quyết định Chủ tịch UBND cấp xã và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.

Nguyên tắc xác định thẩm quyền ban hành

Ba nguyên tắc nền tảng giúp xác định thẩm quyền ban hành VBQPPL: thứ nhất, nguyên tắc thẩm quyền gắn với chức danh nhà nước — mỗi cá nhân giữ chức vụ chỉ ban hành văn bản nhân danh chức danh được giao. Thứ hai, nguyên tắc thứ bậc — văn bản cấp dưới phải tuân thủ, không được trái với văn bản cấp trên; nếu có quy định khác nhau thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. Thứ ba, nguyên tắc phạm vi — cơ quan hành chính nhà nước chỉ ban hành văn bản trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao và không được điều chỉnh những vấn đề thuộc thẩm quyền của cơ quan khác.

Ý nghĩa đối với lĩnh vực ngân hàng

Trong ngành ngân hàng, thẩm quyền ban hành VBQPPL quyết định tính hợp pháp của các văn bản điều chỉnh hoạt động tín dụng, tiền tệ. Chẳng hạn: Quốc hội ban hành Luật Các tổ chức tín dụng; Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành; Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư quy định chi tiết về trần lãi suất, tỷ lệ an toàn vốn, phân loại nợ, dự phòng rủi ro. HĐND cấp tỉnh không được ban hành văn bản điều chỉnh lãi suất tiền gửi, tiền vay vì vấn đề này thuộc thẩm quyền của Ngân hàng Nhà nước. Khi giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng, cán bộ ngân hàng cần xác định rõ văn bản nào có hiệu lực áp dụng, tránh viện dẫn văn bản không đúng thẩm quyền.

Câu hỏi thường gặp

Hỏi: Thông tư của Ngân hàng Nhà nước có được phép quy định về lãi suất huy động tối đa không, hay vấn đề này phải do ai quyết định? Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư quy định trần lãi suất tiền gửi đối với tổ chức tín dụng là đúng thẩm quyền, vì đây là biện pháp điều hành chính sách tiền tệ thuộc chức năng của Ngân hàng Nhà nước. HĐND cấp tỉnh hoặc UBND cấp tỉnh không có thẩm quyền ban hành văn bản điều chỉnh lãi suất vì vượt phạm vi quản lý nhà nước ở địa phương.

Hỏi: Làm thế nào để xác định một văn bản do cơ quan ban hành có đúng thẩm quyền hay không khi xảy ra tranh chấp tín dụng? Cán bộ tín dụng hoặc luật sư cần kiểm tra ba yếu tố: (1) chủ thể ban hành có nằm trong danh sách tại Điều 4 Luật 64/2025/QH15 hay không; (2) văn bản có đúng hình thức luật định với chức danh ban hành không; (3) nội dung văn bản có vượt quá phạm vi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan ban hành không. Nếu vi phạm một trong ba yếu tố, văn bản có nguy cơ bị Tòa án tuyên vô hiệu hoặc không được áp dụng.

Hỏi: Văn bản của Hội đồng Thẩm phán TANDTC và Thông tư của Bộ Tư pháp có giá trị pháp lý ngang nhau không? Không ngang nhau. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC thuộc nhóm văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực bắt buộc đối với Tòa án các cấp trong việc áp dụng pháp luật. Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết về tổ chức, hoạt động công chứng, chứng thực, hộ tịch, thi hành án dân sự. Hai văn bản thuộc hai hệ thống khác nhau (tư pháp và hành chính nhà nước) nên không so sánh trực tiếp về thứ bậc mà xét theo phạm vi điều chỉnh cụ thể.


Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên nghiệp. Khi áp dụng vào nghiệp vụ ngân hàng cụ thể, nhân sự nên đối chiếu trực tiếp với bản chính thức của Luật 64/2025/QH15 và Luật sửa đổi 87/2025/QH15.

Kiến thức này có trong đề thi tuyển dụng ngân hàng

Luyện thi với đề mô phỏng thực tế, chấm điểm tức thì

CC
Thi Công Chức

Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung câu hỏi trên thithu.com chỉ mang tính chất luyện tập và tham khảo, không đại diện cho đề thi chính thức của bất kỳ tổ chức nào. Chúng tôi không chịu trách nhiệm về kết quả thi thực tế của người dùng.