Bỏ qua điều hướng

Phương pháp giá định giá tài sản tài chính là gì?

Thuật ngữ chung

Phương pháp giá định giá tài sản tài chính

Phương pháp giá định giá tài sản tài chính là cách tiếp cận thống nhất dùng để xác định giá trị hợp lý của các tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính tại thời điểm định giá. Theo định nghĩa kế toán, giá trị hợp lý là mức giá mà một tài sản hoặc nợ phải trả có thể được bán hoặc mua trong giao dịch thông thường giữa các bên tham gia thị trường tại thời điểm định giá, với điều kiện người mua và người bán đều có khả năng, đồng ý thực hiện giao dịch và không bị ép buộc hay buộc phải giao dịch.

Phương pháp này được xây dựng theo ba bước cơ bản: xác định thông tin đầu vào phù hợp với đặc điểm của tài sản hoặc nợ phải trả; lựa chọn kỹ thuật định giá phù hợp với mức độ sẵn có của thông tin thị trường; và xác định mức giá trị hợp lý dựa trên các giả định về rủi ro. Trong thực tế ngân hàng, phương pháp này thường được áp dụng cho các công cụ phái sinh, chứng khoán có tài sản bảo đảm, cho vay theo giá trị hợp lý, đầu tư nợ thương phẩu và các thỏa thuận tài chính khác.

Các kỹ thuật định giá chính

Khi thị trường có giao dịch chủ động cho tài sản hoặc nợ phải trả tài chính, giá trị hợp lý thường được xác định dựa trên giá bán thị trường. Đây là giá mua mà người sở hữu tài sản có thể bán trong giao dịch thông thường tại thị trường, tại thời điểm định giá. Ví dụ, đối với một số cổ phiếu niêm yết có thanh khoản cao, giá đóng cửa gần nhất trên sàn giao dịch có thể dùng làm tham chiếu.

Trong trường hợp không có thị trường hoạt động hoặc thị trường không đủ sâu, ngân hàng chuyển sang kỹ thuật định giá dựa trên thông tin đầu vào quan sát được, bao gồm: lãi suất, giá cổ phiếu, giá hàng hóa, chênh lệch lãi suất tín dụng và các yếu tố rủi ro có thể quan sát được trên thị trường. Ví dụ, giá trị hợp lý của một hợp đồng phái sinh lãi suất có thể được ước tính dựa trên đường cong lãi suất định giá hiện hành.

Khi không đủ thông tin quan sát được để định giá trực tiếp, áp dụng kỹ thuật định giá dựa trên mô hình. Mô hình sử dụng các biến số đầu vào quan trọng, trong đó có những biến số không quan sát trực tiếp, kết hợp với các giả định về rủi ro thị trường. Ví dụ, định giá quyền chọn thường áp dụng mô hình Black-Scholes hoặc các mô hình dựa trên cây nhị phân.

Cấu trúc phân tầng của giá trị hợp lý

Khi định giá, ngân hàng phân tầng thông tin đầu vào theo ba cấp độ để đảm bảo tính khách quan và khả năng kiểm chứng:

  • Cấp độ 1: Giá bán thị trường hoặc giá bán thị trường tương đương, áp dụng cho các tài sản có thị trường hoạt động sâu, ví dụ cổ phiếu niêm yết.
  • Cấp độ 2: Thông tin quan sát được, kể cả giá bán thị trường của tài sản tương đương, các chênh lệch lãi suất tín dụng, xu hướng lãi suất, giá cổ phiếu, giá hàng hóa và các chỉ báo rủi ro thị trường.
  • Cấp độ 3: Thông tin không quan sát được, bao gồm các giả định về rủi ro mà thị trường thường sử dụng, ví dụ mức lãi suất chuẩn, mức bồi thường rủi ro tín dụng tương ứng với tổ chức có mức rủi ro xếp hạng tương ứng.

Việc phân tầng này cho phép người đọc báo cáo hiểu được mức độ chắc chắn của con số giá trị hợp lý được công bố. Mô hình định giá không phải lúc nào cũng tự nhiên mang tính đầu vào cấp độ 2 hoặc cấp độ 3; nếu mô hình sử dụng thông tin quan sát được thì vẫn thuộc cấp độ tương ứng.

Ví dụ thực tế trong ngân hàng

Một ngân hàng thương mại mua lại một khoản vay có tài sản bảo đảm với giá trị hợp lý thay đổi theo giá bất động sản hằng quý. Tại ngày định giá, ngân hàng sử dụng giá bán ước tính của bất động sản tương tự trong cùng khu vực, sau khi điều chỉnh theo vị trí, diện tích và các đặc điểm khác của tài sản bảo đảm. Nếu có nhiều dự án tương tự với thông tin giá giao dịch thực tế, các mức giá đó được sử dụng làm thông tin đầu vào cấp độ 2.

Trường hợp tài sản bảo đảm là bất động sản không có giao dịch thị trường thường xuyên, ngân hàng phải sử dụng mô hình chi tiết hóa dòng tiền chiết khấu, kết hợp với tỷ lệ vốn hóa và tỷ lệ chiết khấu phù hợp với đặc điểm tài sản, khu vực và thời điểm định giá. Kết quả thuộc cấp độ 3 và cần được kiểm soát chặt chẽ hơn trong quản trị rủi ro.

Vai trò trong quản trị rủi ro và kế toán

Phương pháp giá định giá tài sản tài chính tạo cơ sở để ngân hàng theo dõi chênh lệch giá trị hợp lý thay đổi qua từng kỳ, phục vụ công tác quản trị rủi ro thị trường. Biến động của giá trị hợp lý phản ánh tác động của các yếu tố thị trường đối với danh mục tài sản tài chính, từ đó hỗ trợ việc xây dựng giới hạn rủi ro, phân bổ vốn và quyết định hedging.

Đối với kế toán, kết quả định giá ảnh hưởng trực tiếp đến việc ghi nhận trên báo cáo tài chính. Các thay đổi giá trị hợp lý được ghi nhận vào lãi hoặc lỗ tùy theo phân loại của tài sản, có thể thông qua lãi/lỗ trong kỳ hoặc lãi/lỗ lũy kế trong các thành phần báo cáo khác. Ngoài ra, đối với tài sản tài chính được định giá theo giá trị hợp lý thông qua lợi nhuận hoặc lỗ, ngân hàng thường công bố thông tin về kỹ thuật định giá, các giả định đầu vào và cấu trúc phân tầng.

Câu hỏi thường gặp

Hỏi: Khi nào ngân hàng được phép sử dụng mô hình định giá thay vì lấy giá thị trường? Khi tài sản hoặc nợ phải trả tài chính không có thị trường hoạt động, không có giao dịch đủ thường xuyên, hoặc khi giá thị trường không đại diện được giá trị hợp lý do giao dịch bị đình trệ. Khi đó, mô hình sử dụng thông tin đầu vào quan sát được kết hợp với các giả định phù hợp với đặc điểm rủi ro của tài sản.

Hỏi: Nếu mô hình định giá sử dụng thông tin quan sát được thì vẫn được xếp là cấp độ 3 hay không? Không nhất thiết. Cấp độ phân tầng được xác định theo tính chất của thông tin đầu vào quan trọng nhất đối với kỹ thuật định giá, chứ không phụ thuộc vào việc mô hình được xây dựng hay hiệu chỉnh thủ công. Mô hình dùng dữ liệu quan sát được thuộc cấp độ 2; chỉ thuộc cấp độ 3 khi có thông tin đầu vào quan trọng không quan sát được.

Hỏi: Ai chịu trách nhiệm kiểm soát chất lượng mô hình định giá trong ngân hàng? Bộ phận quản trị rủi ro thị trường thường tham gia độc lập trong việc xây dựng, kiểm định và phê duyệt mô hình, kiểm tra giả định, đối chiếu với kết quả thực tế. Bộ phận kế toán định giá lại và ghi nhận kết quả, còn đơn vị kinh doanh cung cấp thông tin đầu vào và chịu trách nhiệm về chất lượng dữ liệu.

Nội dung mang tính tham khảo cho mục đích học tập và luyện thi tuyển dụng ngân hàng, không thay thế tư vấn chuyên môn về kế toán, quản trị rủi ro hoặc định giá tài sản tài chính.

Kiến thức này có trong đề thi tuyển dụng ngân hàng

Luyện thi với đề mô phỏng thực tế, chấm điểm tức thì

T
thithu.com

Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung câu hỏi trên thithu.com chỉ mang tính chất luyện tập và tham khảo, không đại diện cho đề thi chính thức của bất kỳ tổ chức nào. Chúng tôi không chịu trách nhiệm về kết quả thi thực tế của người dùng.