Định giá phái sinh lãi suất theo thời gian thực
Định giá phái sinh lãi suất theo thời gian thực là quy trình xác định giá trị hợp lý của các công cụ phái sinh có yếu tố lãi suất, chẳng hạn hợp đồng hoán đổi lãi suất, hợp đồng tương lai lãi suất, phương án mua bán lãi suất hoặc các sản phẩm có gắn với chênh lệch lãi suất. Giá trị hợp lý được tính dựa trên đường cong lãi suất hiện tại của thị trường, thời gian còn lại đến ngày đáo hạn, kỳ thanh toán, lãi suất cố định hoặc lãi suất tham chiếu, giá trị danh nghĩa, giá giao dịch gần nhất cùng các yếu tố có thể ảnh hưởng đến giá của công cụ.
Thông thường, các công cụ phái sinh lãi suất được định giá theo mô hình dòng tiền chiết khấu. Mô hình này ước tính các dòng tiền trong tương lai từ hợp đồng, sau đó chiết khấu chúng về hiện tại bằng lãi suất phù hợp với mức độ rủi ro của công cụ. Với công cụ giao dịch trên sàn, giá đánh giá còn có thể tham chiếu giá mua bán tốt nhất trên thị trường; với công cụ giao dịch phi tập trung, có thể sử dụng giá quan sát gần nhất để hiệu chỉnh khi đánh giá.
Nội dung dưới đây tập trung vào phương pháp xử lý trong hệ thống ngân hàng: công cụ được định giá, đồng thời có dữ liệu quan sát gần nhất, chênh lệch giữa giá định giá và giá thị trường có ý nghĩa, hoặc một tham số đầu vào thay đổi đáng kể so với kỳ đánh giá trước. Khi đó, tổ chức có thể phải cập nhật lại mô hình định giá để bảo đảm giá trị hợp lý được phản ánh đầy đủ các điều kiện thị trường hiện tại.
Mục đích của việc định giá
Mục đích chính của việc định giá phái sinh lãi suất là xác định giá trị hợp lý để phục vụ các mục tiêu khác nhau: ghi nhận trên báo cáo tài chính, kiểm soát rủi ro, quản trị danh mục, kiểm tra giới hạn giao dịch hoặc xác định kết quả tăng trưởng trong hoạt động phái sinh.
Đối với công cụ đã được giao dịch với thanh khản tốt, giá đánh giá thường gần với giá thị trường. Đối với công cụ ít được giao dịch hoặc không có giao dịch thường xuyên, tổ chức phải dựa nhiều hơn vào mô hình định giá và các tham số quan sát được trên thị trường.
Ví dụ, ngân hàng giữ hợp đồng tương lai lãi suất có giá trị danh nghĩa là 1.000 lượng, lãi suất tham chiếu hiện tại là 5,5% và giá thị trường là 1.010. Nếu mô hình tính giá trị hợp lý là 1.008 lượng, chênh lệch giữa giá đánh giá và giá thị trường là 2 lượng. Chênh lệch này cùng với quy mô giao dịch, thời gian đóng cửa thị trường và các yếu tố khác sẽ được xem xét khi đánh giá tính đại diện của giá thị trường.
Nguyên tắc cập nhật định giá
Tổ chức cần có quy trình kiểm soát để xác định khi nào phải định giá hoặc định giá lại công cụ phái sinh. Việc cập nhật dựa trên các thay đổi về thị trường và thông tin đầu vào của mô hình, bao gồm:
- Thay đổi của đường cong lãi suất đối với lãi suất tham chiếu hoặc lãi suất thị trường;
- Thay đổi giá mua bán, giá giao dịch hoặc khối lượng giao dịch;
- Thay đổi lãi suất cố định, giá trị danh nghĩa hoặc ngày đáo hạn;
- Thay đổi về thanh khản, điều kiện thị trường hoặc tính thanh khoản của công cụ;
- Có bằng chứng cho thấy mô hình định giá hiện tại không còn phản ánh đúng giá trị hợp lý.
Khi phát hiện một trong các trường hợp trên, tổ chức xem xét định giá hoặc định giá lại ngay, kể cả khi chưa đến kỳ báo cáo tài chính. Mô hình cũ chỉ được tiếp tục sử dụng khi không có thông tin mới đáng kể hoặc khi các thay đổi chưa làm ảnh hưởng đáng kể đến giá trị hợp lý.
Một nguyên tắc quan trọng là không mặc định mọi thay đổi nhỏ đều dẫn đến định giá lại. Tổ chức có thể áp dụng ngưỡng hoặc tiêu chí phản hồi theo kinh nghiệm và quy định quản trị rủi ro. Tuy nhiên, ngưỡng này phải được xây dựng hợp lý, có thể kiểm chứng và không làm mất tính đại diện của giá trị hợp lý.
Ví dụ trong hệ thống ngân hàng
Giả sử ngân hàng giữ một hợp đồng hoán đổi lãi suất, có thời hạn còn 18 tháng. Kết quả định giá trước đây là 100 tỷ đồng. Sau đó, lãi suất thị trường thay đổi đáng kể, làm giá trị hợp lý của hợp đồng giảm xuống 95 tỷ đồng. Nếu không cập nhật, báo cáo tài chính có thể chưa phản ánh đúng giá trị hiện tại của công cụ.
Trong trường hợp đó, bộ phận quản trị rủi ro hoặc bộ phận phụ trách định giá ghi nhận sự thay đổi, kiểm tra tham số đầu vào và phê duyệt kết quả mới. Kết quả 95 tỷ đồng được sử dụng làm giá trị hợp lý tại thời điểm đánh giá, đồng thời chênh lệch 5 tỷ đồng được trình bày và phân tích phù hợp trong báo cáo tài chính.
Một ví dụ khác là phái sinh được giao dịch trên sàn nhưng không có giao dịch trong nhiều phiên liên tiếp. Giá đóng cửa gần nhất vẫn là dữ liệu quan sát được, nhưng không nhất thiết còn đại diện cho điều kiện thị trường hiện tại. Ngân hàng có thể sử dụng giá quan sát gần nhất kết hợp với giá định giá của mô hình, đồng thời kiểm tra khoảng cách giữa hai giá trị.
Quản trị thay đổi và kiểm soát mô hình
Mô hình định giá phải được kiểm soát về mặt phê duyệt, phiên bản, dữ liệu đầu vào và kết quả kiểm định độc lập. Khi cập nhật mô hình do thị trường thay đổi, cần phân biệt với việc thay đổi có chủ ý trong phương pháp luận. Việc điều chỉnh lãi suất đầu vào theo thị trường là cập nhật kết quả; thay đổi công thức, giả định dòng tiền hoặc phương pháp hiệu chỉnh là thay đổi mô hình và cần được quản lý chặt chẽ hơn.
Hồ sơ kiểm toán nên lưu giữ các thông tin quan trọng như:
- Ngày và giờ thực hiện định giá;
- Loại công cụ và thị trường giao dịch;
- Đường cong lãi suất và các giả định chiết khấu sử dụng;
- Giá quan sát gần nhất và khối lượng giao dịch;
- Phương pháp hiệu chỉnh giữa giá mô hình và giá thị trường;
- Lý do định giá lại;
- Kết quả kiểm tra độc lập và phê duyệt của người có thẩm quyền.
Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn chuyên môn hoặc hướng dẫn của cơ quan quản lý.
Câu hỏi thường gặp
Hỏi: Khi nào ngân hàng phải định giá lại phái sinh lãi suất ngoài kỳ báo cáo tài chính?
Trả lời: Ngoài kỳ báo cáo, ngân hàng vẫn phải định giá hoặc định giá lại khi xuất hiện sự kiện đáng kể, chẳng hạn thị trường biến động mạnh, giá giao dịch thay đổi rõ rệt, thanh khản giảm hoặc phát hiện tham số của mô hình không còn phù hợp. Việc xác định mức độ đáng kể cần được quy định trong quy trình quản trị của từng tổ chức.
Hỏi: Giá đóng cửa gần nhất có phải lúc nào cũng được dùng để định giá phái sinh lãi suất không?
Trả lời: Không nhất thiết. Giá đóng cửa chỉ có giá trị tham chiếu khi thị trường hoạt động bình thường, giao dịch đủ thanh khoản và giá đại diện cho điều kiện hiện tại. Nếu thị trường thanh khoản thấp, giá bất thường hoặc đã thay đổi đáng kể so với thời điểm đóng cửa, cần xem xác kết hợp với dữ liệu giao dịch khác và mô hình định giá.
Hỏi: Nếu mô hình cho kết quả khác xa giá thị trường, ngân hàng nên ưu tiên giá trị nào?
Trả lời: Không nhất thiết phải chọn một trong hai giá trị một cách máy móc. Ngân hàng cần đánh giá tính đại diện của giá quan sát, chất lượng mô hình, điều kiện thị trường và các điều chỉnh hợp đồng. Kết quả cuối cùng phải là giá trị hợp lý tốt nhất trong điều kiện hiện tại, đồng thời có cơ sở giải trình và hồ sơ kiểm soát.