Danh mục phái sinh
Danh mục phái sinh là tập hợp các công cụ tài chính phái sinh được ngân hàng theo dõi, ghi nhận, định giá và quản lý trên cơ sở các yếu tố rủi ro tham chiếu như lãi suất, ngoại tệ, chỉ số, giá hàng hóa hoặc tỷ lệ tín dụng. Mỗi công cụ trong danh mục có đặc điểm xác định về loại rủi ro, kỳ hạn, đơn vị đo lường, phương pháp định giá, ký quỹ và các thỏa thuận bổ sung có liên quan.
Trong hoạt động ngân hàng, danh mục phái sinh thường bao gồm hợp đồng hoán đổi lãi suất, hợp đồng hoán đổi ngoại tệ, phái sinh lãi suất, phái sinh ngoại tệ, hợp đồng tương lai và một số chỉ số phái sinh. Danh mục này được sử dụng cho nhiều mục đích như quản trị rủi ro thị trường, phòng hộ lãi suất và tỷ giá, bảo toàn lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, tạo sản phẩm cho khách hàng và hỗ trợ tối ưu nguồn vốn.
Phạm vi quản lý
Mỗi vị thế phái sinh thuộc danh mục cần được xác định rõ các thông tin quan trọng như loại công cụ, ngày giao dịch, ngày đáo hạn hoặc ngày kết toán, bên mua và bên bán, số lượng, đơn vị tiền tệ, mức lãi suất hoặc tỷ giá tham chiếu, tài sản tham chiếu, giá trị thị trường, dự phòng biến động và tình trạng ký quỹ. Việc quản lý cần đảm bảo khả năng đối soát với hợp đồng, chứng từ giao dịch, hệ thống giao dịch và sổ sách kế toán của ngân hàng.
Đối với công cụ có thể giao dịch trên sàn, danh mục còn cần theo dõi mã sản phẩm, thị trường giao dịch, hạn trú tài khoản, quy định giao dịch và các giới hạn liên quan. Đối với hợp đồng phái sinh ngoại sàn, thông tin về thời hạn, ngày thanh toán, điều kiện thanh toán, thuế phí và cơ chế bù trừ cần được thống nhất bằng văn bản.
Vai trò đối với quản trị rủi ro
Danh mục phái sinh giúp ngân hàng xác định tổng mức phơi nhiệm theo từng loại rủi ro thị trường và từng yếu tố rủi ro. Các chỉ số như giá trị thị trường, độ nhạy lãi suất, độ nhạy ngoại tệ, giá trị rủi ro và mức ký quỹ có thể được theo dõi để hỗ trợ ra quyết định quản trị. Khi thị trường biến động mạnh, ngân hàng có thể đánh giá tác động tiềm tàng đối với vốn, lợi nhuận và thanh khoản trước khi thực hiện giao dịch điều chỉnh.
Một công cụ phái sinh có thể vừa tạo lợi nhuận khi thị trường biến động thuận lợi, vừa phát sinh nghĩa vụ bồi hoàn khi biến động ngược kỳ vọng. Vì vậy, quản lý danh mục không chỉ tập trung vào khả năng sinh lời mà còn phải kiểm soát tính khoản vốn, tập trung rủi ro, khả năng thanh toán và các giới hạn pháp lý áp dụng.
Ví dụ minh họa
Giả sử ngân hàng tham gia một hợp đồng hoán đổi lãi suất với kỳ hạn 03 năm, giá trị danh nghĩa 10 tỷ đồng. Hợp đồng có thể được sử dụng để chuyển đổi một khoản tiền gửi có lãi suất cố định thành khoản tham chiếu liên quan đến lãi suất thay đổi. Ngân hàng cần xác định rõ ngày bắt đầu tính lãi, ngày thanh toán, lãi suất cố định, lãi suất tham chiếu, phương pháp tính và nghĩa vụ của mỗi bên.
Một ví dụ khác là ngân hàng mua phái sinh chỉ số để bảo vệ danh mục chứng khoán trong trường hợp chỉ số giảm. Khi chỉ số giảm theo hướng có lợi cho vị thế phòng hộ, lãi/lỗ từ phái sinh có thể bù đắn một phần hoặc toàn bộ tác động tiêu cực lên danh mục. Tuy nhiên, mức bù đắn phụ thuộc vào tỷ lệ phòng hộ, hệ số nhân, giá thực thi, thanh toán cận nhật và mức biến động thực tế của chỉ số.
Câu hỏi thường gặp
Hỏi: Phái sinh lãi suất và phái sinh ngoại tệ khác nhau như thế nào trong danh mục phái sinh?
Phái sinh lãi suất có yếu tố tham chiếu là mức lãi suất, còn phái sinh ngoại tệ có yếu tố tham chiếu là tỷ giá giữa hai loại tiền tệ. Khi lãi suất tăng hoặc tỷ giá biến động, giá trị và nghĩa vụ thanh toán của từng công cụ sẽ thay đổi theo phương thức đã thỏa thuận.
Hỏi: Vì sao giá trị hợp đồng phái sinh ban đầu có thể bằng 0 nhưng ngân hàng vẫn cần theo dõi rủi ro?
Giá trị hợp đồng tại thời điểm ký có thể chỉ là giá trị hiện tại của dòng tiền kỳ vọng hoặc chênh lệch giữa giá thị trường và giá hợp đồng, chưa phản ánh toàn bộ rủi ro trong vòng đời công cụ. Ngân hàng vẫn phải theo dõi giá trị thị trường, mức ký quỹ, nghĩa vụ bồi hoàn và khả năng phát sinh lỗ trong các giai đoạn tiếp theo.
Hỏi: Khi nào cần thực hiện thanh toán cận nhật hoặc bù trừ trong danh mục phái sinh?
Việc thanh toán cận nhật hoặc bù trừ phụ thuộc vào loại hợp đồng, thỏa thuận với khách hàng và quy định của thị trường hoặc khung pháp lý áp dụng. Thông thường, ngân hàng phải xác định giá trị thị trường, mức chênh lệch, thời điểm đánh giá và nghĩa vụ bổ sung ký quỹ để bảo đảm nghĩa vụ trong phạm vi thỏa thuận. Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn chuyên môn.