Bảo lãnh thanh toán tiền thuê vận hành (Operating Lease Payment Guarantee)
Bảo lãnh thanh toán tiền thuê vận hành (Operating Lease Payment Guarantee) là một chế phẩm bảo lãnh ngân hàng, theo đó ngân hàng phát hành cam kết trả tiền thay cho bên thuê (bên được bảo lãnh) nếu bên này không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán phí thuê vận hành đến hạn cho bên cho thuê (người thụ hưởng bảo lãnh) theo hợp đồng cho thuê vận hành đã ký kết. Đây là công cụ hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận tài sản sản xuất – kinh doanh theo hình thức thuê hoạt động mà không cần ký quỹ hoặc đặt cọc bằng tiền mặt, đồng thời giúp bên cho thuê giảm rủi ro mất vốn khi cho thuê thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải hoặc tài sản cố định khác. Về bản chất, đây là dịch vụ bảo lãnh ngoài cân đối (off-balance sheet) thuộc nhóm bảo lãnh thanh toán trong hoạt động tín dụng – bảo lãnh của tổ chức tín dụng, có thu phí bảo lãnh theo biểu phí hiện hành của ngân hàng phát hành.
Đặc điểm của bảo lãnh thanh toán tiền thuê vận hành
Khác với bảo lãnh mua hàng hoặc bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãm thanh toán tiền thuê vận hành có những đặc điểm riêng biệt: (1) Đối tượng bảo lãnh là nghĩa vụ thanh toán định kỳ (thường là hàng tháng hoặc hàng quý) chứ không phải khoản thanh toán một lần; (2) Thời hạn bảo lãnh thường trùng hoặc dài hơn thời hạn thuê vận hành còn lại, có thể lên tới 5 – 10 năm đối với tài sản có giá trị lớn; (3) Số tiền bảo lãnh thường được tính bằng tổng phí thuê còn phải thanh toán trong một khoảng thời gian nhất định (ví dụ: 3 tháng, 6 tháng hoặc 12 tháng tiền thuê) hoặc bằng toàn bộ giá trị hợp đồng thuê chưa thanh toán; (4) Ngân hàng chỉ trả tiền khi bên thuê vi phạm nghĩa vụ thanh toán và bên cho thuê xuất trình bộ chứng từ đòi tiền theo điều kiện bảo lãnh; (5) Sau khi trả tiền, ngân hàng có quyền đòi lại bên thuê theo thỏa thuận bảo lãnh ngược (counter-guarantee) đã ký trước đó.
Quy trình phát hành bảo lãnh
Quy trình phát hành bảo lãnh thanh toán tiền thuê vận hành tại các ngân hàng thương mại Việt Nam thường gồm các bước cơ bản: (1) Doanh nghiệp có nhu cầu thuê tài sản nộp hồ sơ xin bảo lãnh cho ngân hàng, bao gồm hợp đồng thuê vận hành dự kiến, báo cáo tài chính, kế hoạch sản xuất kinh doanh và phương án sử dụng tài sản thuê; (2) Ngân hàng thẩm định năng lực tài chính, uy tín doanh nghiệp và đánh giá hiệu quả kinh tế của phương án thuê; (3) Doanh nghiệp ký hợp đồng bảo lãnh, thỏa thuận bảo lãnh ngược và thực hiện biện pháp bảo đảm (thế chấp tài sản, bảo lãnh của bên thứ ba hoặc ký quỹ một phần, thường từ 5% – 20% giá trị bảo lãnh); (4) Ngân hàng phát hành thư bảo lãnh (Bank Guarantee) gửi trực tiếp đến bên cho thuê; (5) Trong suốt thời hạn bảo lãnh, ngân hàng theo dõi việc thanh toán định kỳ của bên thuê và cập nhật hạn mức bảo lãnh khi kỳ thanh toán được thực hiện đầy đủ.
Phân biệt với các loại bảo lãnh liên quan
Trong thực tế nghiệp vụ, bảo lãnh thanh toán tiền thuê vận hành dễ bị nhầm lẫn với hai chế phẩm khác: Bảo lãnh thanh toán tiền thuê tài chính (Finance Lease Payment Guarantee) – thường có giá trị lớn hơn vì gắn với nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo lịch trả nợ cố định; Bảo lãnh thực hiện hợp đồng (Performance Bond) – chỉ đảm bảo bên thuê thực hiện đúng các cam kết vận hành, bảo dưỡng, trả lại tài sản chứ không trực tiếp đảm bảo thanh toán tiền thuê. Tùy theo mục tiêu quản trị rủi ro của bên cho thuê mà hai bên sẽ thỏa thuận sử dụng loại bảo lãnh phù hợp; trong nhiều hợp đồng cho thuê vận hành giá trị cao (ví dụ: thuê máy bay, tàu biển, thiết bị công nghiệp nặng), bên cho thuê yêu cầu doanh nghiệp thuê phải đồng thời có cả ba loại bảo lãnh trên.
Lưu ý đối với doanh nghiệp và ngân hàng
Khi sử dụng bảo lãnh thanh toán tiền thuê vận hành, cả bên thuê và ngân hàng phát hành cần lưu ý: (1) Phí bảo lãnh thường được tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị bảo lãnh theo năm (thông thường từ 0,5%/năm đến 2,5%/năm tùy mức độ rủi ro), ngoài ra doanh nghiệp còn chịu chi phí thẩm định và phí cam kết; (2) Bảo lãnh này là một trong những khoản cam kết ngoài bảng cân đối kế toán nên không làm tăng nợ phải trả trên báo cáo tài chính, nhưng vẫn nằm trong hạn mức tín dụng chung của khách hàng tại ngân hàng; (3) Khi doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ bảo lãnh, ngân hàng vừa phải trả tiền cho bên cho thuê vừa đối mặt với rủi ro thu hồi nợ, do đó tỷ lệ ký quỹ và biện pháp bảo đảm thường được siết chặt hơn so với các khoản vay thông thường; (4) Nội dung bài mang tính tham khảo nghiệp vụ, không thay thế tư vấn pháp lý hoặc tư vấn tín dụng chuyên nghiệp cho từng trường hợp cụ thể.
Câu hỏi thường gặp
Hỏi: Doanh nghiệp có bắt buộc phải có bảo lãnh thanh toán tiền thuê vận hành khi ký hợp đồng thuê không? Không bắt buộc theo quy định pháp luật, mà việc có yêu cầu bảo lãnh hay không phụ thuộc vào thỏa thuận giữa bên cho thuê và bên thuê. Tuy nhiên, với các hợp đồng thuê tài sản có giá trị lớn hoặc thuê từ các công ty cho thuê nước ngoài, bên cho thuê hầu như luôn yêu cầu bảo lãnh ngân hàng để giảm rủi ro thanh toán. Nếu doanh nghiệp không có bảo lãnh, bên thuê thường phải ký quỹ tiền mặt tương đương nhiều tháng tiền thuê, làm tăng chi phí sử dụng vốn.
Hỏi: Giá trị bảo lãnh thanh toán tiền thuê vận hành được xác định như thế nào? Giá trị bảo lãnh thường được tính bằng tổng phí thuê phát sinh trong một khoảng thời gian nhất định mà hai bên thỏa thuận, phổ biến là 3 tháng, 6 tháng hoặc 12 tháng tiền thuê. Một số trường hợp đặc biệt, bảo lãnh có thể được tính bằng tổng toàn bộ phí thuê còn lại của cả hợp đồng. Giá trị bảo lãnh sẽ giảm dần theo từng kỳ thanh toán mà bên thuê hoàn thành đúng hạn, hoặc được duy trì ổn định nếu thỏa thuận yêu cầu bảo lãnh cho toàn bộ thời hạn thuê.
Hỏi: Bảo lãnh thanh toán tiền thuê vận hành có được tính vào hạn mức tín dụng của khách hàng tại ngân hàng không? Có, bảo lãnh này nằm trong tổng hạn mức cấp tín dụng bao gồm cả cho vay và bảo lãnh. Khi cấp bảo lãnh, ngân hàng sẽ trích một phần hạn mức chung tương ứng giá trị bảo lãnh và phân loại khoản này theo nhóm nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước nếu xảy ra sự kiện bảo lãnh. Do đó, doanh nghiệp cần cân nhắc tổng hạn mức đang sử dụng trước khi đề nghị ngân hàng phát hành bảo lãnh để tránh bị từ chối vì vượt hạn mức.