Bỏ qua điều hướng

Trái phiếu Chính phủ (TPCP) là gì?

Huy động vốn

Trái phiếu Chính phủ (TPCP)

Trái phiếu Chính phủ (TPCP) — trong tiếng Anh gọi là Government Bond hay Sovereign Bond — là loại chứng khoán nợ do Chính phủ (trung ương) phát hành nhằm huy động vốn trung và dài hạn từ thị trường tài chính để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước và tài trợ cho các chương trình, dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội. TPCP được xem là công cụ nợ có rủi ro vỡ nợ thấp nhất trong một quốc gia vì nguồn trả nợ cuối cùng là ngân sách nhà nước (thuế, phí và các nguồn thu khác của Chính phủ), đồng thời có thể được sử dụng trong các giao dịch mua bán lại (repo) với Ngân hàng Nhà nước hoặc làm tài sản đảm bảo trên thị trường tiền tệ. Chính vì vậy, khi tính toán yêu cầu vốn theo rủi ro tín dụng theo chuẩn Basel, TPCP thường được các tổ chức tín dụng áp dụng hệ số rủi ro 0%.

Đặc điểm cơ bản của TPCP

  • Chủ thể phát hành: Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; đại diện là Bộ Tài chính (thông qua Sở Giao dịch chứng khoán của Kho bạc Nhà nước hoặc qua đấu thầu tại Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội - HNX).
  • Mệnh giá phổ thông: 100.000 đồng/trái phiếu (một số loại 1.000.000 đồng hoặc cao hơn tuỳ đợt phát hành).
  • Loại hình: Trái phiếu ghi sổ (đa số hiện nay), trái phiếu vô danh hoặc ghi danh tuỳ từng đợt.
  • Kỳ hạn phổ biến: 3 năm, 5 năm, 7 năm, 10 năm, 15 năm, 20 năm, 30 năm; kỳ hạn 5 và 10 năm thường có thanh khoản tốt nhất.
  • Lãi suất: Có thể trả lãi cố định (fixed coupon) hoặc lãi suất thả nổi (floating rate) neo theo lãi suất tái cấp vốn hoặc trung bình lãi suất tiền gửi; lãi được trả định kỳ 6 tháng/lần hoặc 12 tháng/lần tuỳ loại.
  • Phương thức phát hành: Đấu thầu cạnh tranh trên thị trường sơ cấp, sau đó được giao dịch trên thị trường thứ cấp tại HNX.
  • Quyền của người sở hữu: Nhận gốc khi đáo hạn, nhận lãi định kỳ, được tự do chuyển nhượng, cầm cố, bảo lãnh.

Vai trò của TPCP với hệ thống ngân hàng

TPCP không chỉ là kênh huy động vốn của Chính phủ mà còn là tài sản chiến lược trên bảng cân đối của các tổ chức tín dụng và công ty bảo hiểm:

  1. Danh mục dự trữ (HOLD): NHTM mua TPCP nhằm đa dạng hoá danh mục, đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn (CAR) nhờ hệ số rủi ro 0%, đồng thời tạo nguồn thu lãi ổn định.
  2. Tài sản đảm bảo trong nghiệp vụ mua bán lại (REPO): TPCP là tài sản cơ sở phổ biến nhất trong các giao dịch repo với NHNN, giúp NHTM điều tiết thanh khoản ngắn hạn.
  3. Tham chiếu lãi suất: Đường cong lợi suất TPCP làm "benchmark" cho việc định giá trái phiếu doanh nghiệp, lãi suất cho vay dài hạn và các công cụ phái sinh lãi suất.
  4. Quản lý rủi ro lãi suất: Do TPCP kỳ hạn dài có thể được phân loại vào chứng khoán sẵn sàng bán (AFS) hoặc đến đáo hạn (HTM) theo mô hình kinh doanh của ngân hàng.

Phân biệt TPCP với một số công cụ nợ khác

Tiêu chíTPCPTPCP bảo lãnhTrái phiếu doanh nghiệpTín phiếu kho bạc
Bên phát hànhChính phủChính phủ bảo lãnhDoanh nghiệpKho bạc Nhà nước
Kỳ hạnTrung - dài hạnTrung - dài hạnTrung - dài hạnDưới 1 năm (phổ biến 13 - 52 tuần)
Rủi ro tín dụngThấp nhấtRất thấpTrung bình - cao tuợ hạngThấp
Thị trường giao dịchHNXHNXUPCoM / HNX / HSXThị trường tiền tệ

Quy trình đấu thầu và giao dịch TPCP (khái quát)

  1. Bộ Tài chính công bố kế hoạch phát hành hằng năm, khối lượng và kỳ hạn dự kiến.
  2. Kho bạc Nhà nước thông báo đợt đấu thầu; các thành viên đấu thầu (NHTM, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư...) nộp hồ sơ dự thầu.
  3. Giá trúng thầu xác định theo phương thức đấu thầu đa mức giá (Dutch auction) hoặc đơn mức giá (French auction) tuỳ quy định từng thời kỳ.
  4. TPCP được giao dịch trên thị trường thứ cấp tại HNX theo phương thức khớp lệnh hoặc thoả thuận, với tỷ suất lợi nhuận (YTM) được niêm yết liên tục.
  5. Vào ngày đáo hạn, nhà đầu tư nhận lại mệnh giá và phần lãi còn lại (nếu trả cuối kỳ).

Câu hỏi thường gặp

Hỏi: Vì sao TPCP lại có hệ số rủi ro 0% theo chuẩn Basel? Vì Chính phủ là chủ thể có quyền in tiền và thu thuế - hai nguồn lực đảm bảo khả năng trả nợ cuối cùng trong phạm vi một quốc gia. Do đó, theo các chuẩn đánh giá rủi ro tín dụng quốc tế (ví dụ bảng xếp hạng tín nhiệm quốc gia), khả năng Chính phủ vỡ nợ là rất thấp, đủ để quy về mức rủi ro không đáng kể khi tính tỷ lệ an toàn vốn.

Hỏi: NHTM có nên đưa TPCP vào chứng khoán kinh doanh (FVTPL) hay chứng khoán sẵn sàng bán (AFS)? Phụ thuộc mô hình kinh doanh và chiến lược quản lý rủi ro lãi suất. Nếu NHTM muốn chủ động bán khi thị trường biến động để tối ưu thanh khoản, có thể phân loại vào AFS (ghi nhận lãi/lỗ qua vốn). Nếu tổ chức mua và giữ để đáo hạn nhằm tạo dòng thu lãi ổn định thì phân loại vào HTM. Phân loại FVTPL chỉ phù hợp khi NHTM thực sự thực hiện giao dịch mua bán thường xuyên với tần suất cao.

Hỏi: Nhà đầu tư cá nhân có thể mua TPCP trực tiếp không? Có. Các cá nhân có tài khoản chứng khoán tại công ty chứng khoán thành viên của HNX có thể đặt lệnh mua TPCP trên thị trường thứ cấp (Outright) hoặc tham gia thị trường sơ cấp thông qua đại lý đấu thầu. Tuy nhiên, tỷ trọng cá nhân trong cơ cấu nhà đầu tư TPCP tại Việt Nam còn khá nhỏ so với NHTM, công ty bảo hiểm và các tổ chức tài chính.


Lưu ý: Nội dung mang tính tham khảo phục vụ ôn thi và tìm hiểu nghiệp vụ, không thay thế tư vấn pháp lý hay tư vấn đầu tư chuyên nghiệp. Số liệu minh hoạ và quy định cụ thể có thể thay đổi theo thời kỳ; người đọc nên đối chiếu với văn bản hiện hành của Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội.

Kiến thức này có trong đề thi tuyển dụng ngân hàng

Luyện thi với đề mô phỏng thực tế, chấm điểm tức thì

CC
Thi Công Chức

Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung câu hỏi trên thithu.com chỉ mang tính chất luyện tập và tham khảo, không đại diện cho đề thi chính thức của bất kỳ tổ chức nào. Chúng tôi không chịu trách nhiệm về kết quả thi thực tế của người dùng.