Bỏ qua điều hướng

Thuế hoãn lại phải trả là gì?

Deferred Tax Liability Kế toán

Thuế hoãn lại phải trả

Thuế hoãn lại phải trả (Deferred Tax Liability - DTL) là khoản thuế thu nhập doanh nghiệp mà một đơn vị sẽ phải nộp trong các kỳ kế toán tương lai, phát sinh từ các chênh lệch tạm thời chịu thuế (taxable temporary differences) — tức là những khoản chênh lệch giữa giá trị ghi sổ kế toán và cơ sở tính thuế của tài sản hoặc nợ phải trả mà khi thanh lý tài sản hoặc thanh toán nợ phải trả sẽ làm tăng thu nhập chịu thuế trong tương lai. Nói cách khác, khi doanh nghiệp đã ghi nhận một khoản thu nhập vào báo cáo kế toán nhưng thuế chưa đến kỳ tính (thường vì quy định thuế ghi nhận khác thời điểm với kế toán), khoản thuế đó sẽ được "hoãn" sang kỳ sau và ghi nhận trên bảng cân đối kế toán dưới dạng nợ phải trả. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện hành, thuế hoãn lại phải trả được ghi nhận trên Bảng cân đối kế toán tại chỉ tiêu "Thuế thu nhập hoãn lại phải trả" thuộc phần nợ phải trả, và phần chênh lệch phát sinh trong kỳ được phản ánh trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hoặc Báo cáo thu nhập toàn diện khác tùy theo bản chất giao dịch.

Nguyên nhân phát sinh thuế hoãn lại phải trả

Trong thực tiễn kế toán ngân hàng và doanh nghiệp, các trường hợp phổ biến làm phát sinh thuế hoãn lại phải trả gồm:

  • Khấu hao tài sản cố định theo hai phương pháp khác nhau: Kế toán thường áp dụng phương pháp khấu hao nhanh (số dư giảm dần, tổng số năm sử dụng hữu ích) trong khi thuế áp dụng phương pháp đường thẳng theo khung thời gian quy định. Giai đoạn đầu, chi phí khấu hao kế toán lớn hơn khấu hao thuế, làm lợi nhuận kế toán thấp hơn lợi nhuận tính thuế; các năm sau sẽ ngược lại, tạo ra chênh lệch tạm thời chịu thuế và phát sinh thuế hoãn lại phải trả.
  • Đánh giá lại tài sản theo giá thị trường (fair value): Khi tài sản được ghi nhận tăng giá trị theo giá thị trường trên sổ kế toán nhưng cơ sở tính thuế vẫn giữ nguyên giá gốc, khoản chênh lệch tăng đó sẽ làm tăng thuế trong tương lai khi tài sản được bán hoặc sử dụng.
  • Doanh thu nhận trước dài hạn đã ghi nhận vào thu nhập kế toán nhưng thuế chỉ tính khi thực thu: Phổ biến với các khoản phí trả trước, lãi nhận trước từ hợp đồng dài hạn, hoặc doanh thu từ cho thuê tài sản thanh toán một lần.
  • Các khoản đầu tư vào công ty con, liên kết chưa phân phối: Lợi nhuận sau thuế chưa chia từ công ty con mà kế toán hợp nhất đã ghi nhận, nhưng nếu cổ tức được chia trong tương lai sẽ phát sinh thêm nghĩa vụ thuế.
  • Lỗ tính thuế mang sang: Trong một số trường hợp ghi nhận ban đầu, lỗ tính thuế của kỳ này có thể tạo ra thuế hoãn lại phải trả nếu việc ghi nhận tài sản thuế hoãn lại liên quan đến cùng giao dịch.

Cách ghi nhận và công thức tính

Công thức cơ bản:

Thuế hoãn lại phải trả cuối kỳ = Chênh lệch tạm thời chịu thuế tại ngày kết thúc kỳ báo cáo × Thuế suất thuế TNDN hiện hành

Trong đó:

  • Chênh lệch tạm thời chịu thuế = Giá trị ghi sổ kế toán của tài sản/nợ phải trả - Cơ sở tính thuế (khi giá trị ghi sổ lớn hơn cơ sở tính thuế đối với tài sản, hoặc nhỏ hơn cơ sở tính thuế đối với nợ phải trả).
  • Thuế suất áp dụng là thuế suất thuế TNDN dự kiến có hiệu lực tại thời điểm nghĩa vụ thuế được thanh toán.

Bút toán kế toán tham khảo:

  • Khi phát sinh thuế hoãn lại phải trả tăng: Nợ TK 8212 "Chi phí thuế thu nhập hoãn lại" / Có TK 347 "Thuế thu nhập hoãn lại phải trả".
  • Khi thuế hoãn lại phải trả giảm (hoàn nhập): Nợ TK 347 / Có TK 8212 hoặc Có TK 8212 và ghi giảm bên nợ.

Số liệu minh họa: Một ngân hàng thương mại có tài sản cố định hữu hình nguyên giá 10 tỷ đồng, kế toán khấu hao trong 5 năm (đường thẩng), thuế khấu hao theo khung 10 năm. Năm thứ nhất, khấu hao kế toán là 2 tỷ, khấu hao thuế là 1 tỷ. Chênh lệch tạm thời chịu thuế = 1 tỷ. Với thuế suất 20%, thuế hoãn lại phải trả phát sinh trong năm = 200 triệu đồng. Sang năm thứ 6 trở đi, khi khấu hao thuế lớn hơn khấu hao kế toán, khoản thuế hoãn lại phải trả sẽ được hoàn nhập dần.

Phân biệt với các khái niệm liên quan

Người làm kế toán và ứng viên thi tuyển ngân hàng thường nhầm lẫn giữa thuế hoãn lại phải trả với một số khái niệm sau:

  • Tài sản thuế hoãn lại (Deferred Tax Asset - DTA): Là khoản thuế sẽ được hoàn lại hoặc giảm trong tương lai, phát sinh từ chênh lệch tạm thời được khấu trừ (chẳng hạn lỗ tính thuế mang sang). DTA ghi nhận ở phần tài sản, còn DTL ghi nhận ở phần nợ phải trả — về bản chất là hai bên đối ứng nhau trong bảng cân đối kế toán.
  • Thuế TNDN phải nộp (current tax): Là thuế tính trên thu nhập chịu thuế của kỳ hiện tại theo quy định pháp luật thuế, phải nộp ngân sách trong kỳ. Khác với thuế hoãn lại, thuế hiện hành không qua giai đoạn "hoãn".
  • Thuế TNDN hoãn lại (thuật ngữ chung): Là khái niệm tổng quát bao gồm cả thuế hoãn lại phải trả (DTL) và tài sản thuế hoãn lại (DTA). Khi đọc báo cáo tài chính, cần xem chỉ tiêu cụ thể trên bảng cân đối để phân biệt.

Ý nghĩa với ngân hàng và người học thi tuyển

Đối với các ngân hàng thương mại, thuế hoãn lại phải trả ảnh hưởng đáng kể đến các chỉ tiêu tài chính: tổng nợ phải trả trên bảng cân đối, chi phí thuế TNDN trong báo cáo kết quả kinh doanh, và tỷ lệ an toàn vốn (CAR) vì thuế hoãn lại phải trả được loại trừ khi tính vốn tự có cấp 2 trong một số trường hợp theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Trong kỳ thi tuyển dụng ngân hàng, câu hỏi về thuế hoãn lại thường xuất hiện ở phần kiến thức tài chính - kế toán hoặc phỏng vấn chuyên sâu, yêu cầu ứng viên hiểu rõ cơ chế phát sinh, cách tính và ảnh hưởng lên báo cáo tài chính.

Câu hỏi thường gặp

Hỏi: Thuế hoãn lại phải trả có phải là khoản nợ thực tế phải nộp ngay cho cơ quan thuế không?

Không. Đây là nghĩa vụ thuế sẽ phát sinh trong tương lai khi các chênh lệch tạm thời "đảo ngược" (reverse), tức khi tài sản được thu hồi hoặc nợ phải trả được thanh toán theo giá trị ghi sổ kế toán. Doanh nghiệp chưa phải nộp khoản này cho cơ quan thuế tại thời điểm ghi nhận, nhưng phải theo dõi trên sổ sách kế toán để phản ánh đúng bản chất kinh tế.

Hỏi: Khi nào khoản thuế hoãn lại phải trả được hoàn nhập (giảm)?

Khoản thuế hoãn lại phải trả được hoàn nhập khi chênh lệch tạm thời chịu thuế giảm hoặc không còn, ví dụ khi khấu hao kế toán bằng hoặc thấp hơn khấu hao thuế trong các năm sau (với tài sản cố định), khi tài sản được thanh lý, khi công ty con phân phối cổ tức đã được ghi nhận, hoặc khi thuế suất thay đổi. Việc hoàn nhập có thể làm tăng thu nhập sau thuế của kỳ đó.

Hỏi: Ngân hàng thương mại có những khoản mục nào thường phát sinh thuế hoãn lại phải trả lớn nhất?

Thực tế tại các ngân hàng Việt Nam, các khoản thường phát sinh thuế hoãn lại phải trả lớn gồm: chênh lệch giữa khấu hao kế toán và khấu hao thuế của tài sản cố định (trụ sở, chi nhánh, máy móc thiết bị ATM), chênh lệch đánh giá lại tài sản tài chính theo giá thị trường (FVOCI, FVTPL) so với cơ sở tính thuế, và lợi nhuận chưa phân phối từ công ty con, công ty liên kết. Riêng với dự phòng rủi ro tín dụng, phần chênh lệch giữa dự phòng theo chuẩn mực kế toán và dự phòng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước cũng là nguồn phát sinh đáng kể.


Nội dung mang tính tham khảo về nghiệp vụ kế toán, không thay thế tư vấn từ kiểm toán viên hoặc chuyên gia thuế.

Kiến thức này có trong đề thi tuyển dụng ngân hàng

Luyện thi với đề mô phỏng thực tế, chấm điểm tức thì

CC
Thi Công Chức

Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung câu hỏi trên thithu.com chỉ mang tính chất luyện tập và tham khảo, không đại diện cho đề thi chính thức của bất kỳ tổ chức nào. Chúng tôi không chịu trách nhiệm về kết quả thi thực tế của người dùng.