Bỏ qua điều hướng

Giảm trừ gia cảnh bản thân là gì?

Personal Deduction Pháp lý

Giảm trừ gia cảnh bản thân

Giảm trừ gia cảnh bản thân là khoản được trừ trực tiếp vào thu nhập chịu thuế của người nộp thuế thu nhập cá nhân trước khi tính thuế, nhằm đảm bảo phần thu nhập tối thiểu phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân của người nộp thuế không phải chịu thuế thu nhập cá nhân. Theo quy định hiện hành, mức giảm trừ gia cảnh bản thân áp dụng cho đối tượng cư trú là 11 triệu đồng mỗi tháng (tương đương 132 triệu đồng/năm nếu người lao động làm việc đủ 12 tháng), và áp dụng cho cá nhân không cư trú là 4,4 triệu đồng mỗi tháng. Đây là cơ sở quan trọng trong cách tính thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công mà ngân hàng và các doanh nghiệp thường áp dụng khi chi trả cho nhân viên cũng như khi tư vấn cho khách hàng về các khoản thu nhập chịu thuế.

Đối tượng được áp dụng giảm trừ gia cảnh bản thân

Mức giảm trừ 11 triệu đồng/tháng chỉ áp dụng cho cá nhân cư trú là người nộp thuế thu nhập cá nhân, bao gồm cả trường hợp cá nhân có thu nhập từ nhiều nguồn (tiền lương, tiền công từ nhiều nơi; thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản...). Trong trường hợp người nộp thuế có nhiều nguồn thu nhập, giảm trừ gia cảnh bản thân được tính một lần tại một nơi (thường do người lao động tự quyết định và cam kết trên tờ khai thuế). Với cá nhân không cư trú, mức giảm trừ cố định là 4,4 triệu đồng/tháng và không phân biệt có người phụ thuộc hay không. Nếu trong tháng cá nhân vừa là cư trú vừa là không cư trú, mức giảm trừ được tính theo số ngày tương ứng của từng trạng thái cư trú.

Cách tính giảm trừ gia cảnh vào thu nhập chịu thuế

Công thức tính thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công cho cá nhân cư trú theo phương pháp lũy tiến từng phần được xác định trên thu nhập tính thuế, trong đó:

Thu nhập tính thuế = Thu nhập chịu thuế − Giảm trừ gia cảnh bản thân − Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc − Các khoản đóng bảo hiểm bắt buộc (BHXH, BHYT, BHYT, kinh phí công đoàn) − Các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học được trừ.

Thuế thu nhập cá nhân phải nộp = Thu nhập tính thuế × Thuế suất tương ứng theo bậc lũy tiến.

Ví dụ minh họa: Một nhân viên ngân hàng có tổng thu nhập chịu thuế 25 triệu đồng/tháng, đóng bảo hiểm bắt buộc 2,25 triệu đồng, không có người phụ thuộc. Khi đó thu nhập tính thuế = 25 − 11 − 2,25 = 11,75 triệu đồng. Thuế suất áp dụng cho phần thu nhập này thuộc bậc 2 (trên 5 triệu đến 10 triệu: 10%, phần vượt 10 triệu đến 18 triệu: 15%). Phần thu nhập tính thuế 10 triệu đầu tiên chịu thuế 10% = 1 triệu đồng; phần còn lại 1,75 triệu đồng chịu thuế 15% = 262.500 đồng. Tổng thuế phải nộp = 1.262.500 đồng/tháng.

Sự khác biệt giữa giảm trừ gia cảnh bản thân và giảm trừ gia cảnh người phụ thuộc

Giảm trừ gia cảnh bản thân là khoản trừ cố định dành cho chính người nộp thuế, không cần chứng minh và được áp dụng cho mọi cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế. Ngược lại, giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc chỉ áp dụng khi người nộp thuế thực tế nuôi dưỡng người phụ thuộc hợp pháp (con cái, vợ/chồng không có thu nhập hoặc có thu nhập dưới mức quy định, cha mẹ, ông bà, người thân khác...), mỗi người phụ thuộc được trừ 4,4 triệu đồng/tháng và phải đăng ký với cơ quan thuế kèm hồ sơ chứng minh. Như vậy, nếu một nhân viên có thu nhập chịu thuế 30 triệu đồng/tháng, đóng bảo hiểm bắt buộc, có vợ không đi làm và 1 con dưới 18 tuổi, tổng giảm trừ gia cảnh = 11 (bản thân) + 4,4 (vợ) + 4,4 (con) = 19,8 triệu đồng/tháng, giúp giảm đáng kể số thuế phải nộp so với trường hợp chỉ giảm trừ bản thân.

Lưu ý khi áp dụng trong thực tiễn ngân hàng và doanh nghiệp

Các tổ chức trả thu nhập (trong đó có ngân hàng thương mại, công ty tài chính, quỹ đầu tư...) khi khấu trừ thuế thu nhập cá nhân cho nhân viên cần lưu ý: mức giảm trừ 11 triệu đồng/tháng được tính tự động vào tờ khai thuế hàng tháng/quý do tổ chức trả thu nhập nộp thay; với lao động thử việc, ký hợp đồng dưới 3 tháng, mức giảm trừ vẫn được áp dụng tương ứng với thời gian thực tế làm việc trong tháng (theo số ngày); trường hợp nhân viên nghỉ việc giữa tháng, mức giảm trừ được tính theo số ngày làm việc thực tế; cá nhân có thu nhập từ hai nguồn trở lên phải tự quyết toán thuế cuối năm và cam kết chỉ giảm trừ gia cảnh bản thân tại một nguồn, nếu không cam kết thì mỗi nguồn vẫn được giảm trừ một lần dẫn đến có thể phải nộp thêm thuế khi quyết toán. Một số trường hợp đặc biệt như cá nhân chưa có số chứng minh nhân dân/căn cước công dân, hoặc chưa có mã số thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn khấu trừ thuế theo mức giảm trừ gia cảnh nhưng cá nhân sau đó vẫn phải hoàn thiện thông tin với cơ quan thuế.

Ý nghĩa với thí sinh luyện thi tuyển dụng ngân hàng

Trong các bài thi tuyển dụng vào vị trí giao dịch viên, chuyên viên quan hệ khách hàng, chuyên viên tín dụng, thuật ngữ giảm trừ gia cảnh bản thân thường xuất hiện trong phần thi nghiệp vụ thuế và kiến thức tài chính cá nhân. Thí sinh cần nắm rõ: mức giảm trừ hiện hành, đối tượng áp dụng, cách phân biệt với giảm trừ người phụ thuộc, cũng như cách tính thuế thu nhập cá nhân theo biểu lũy tiến từng phần. Ngoài ra, hiểu rõ cơ chế này còn giúp chuyên viên ngân hàng tư vấn chính xác cho khách hàng về hiệu quả tài chính khi chuyển đổi thu nhập từ lương sang các hình thức khác (như đầu tư chứng khoán, gửi tiết kiệm, cho vay...) — bởi các nguồn thu nhập khác nhau có cách tính thuế và mức giảm trừ khác nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập ròng của khách hàng.

Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn chuyên môn về thuế và pháp lý. Mức giảm trừ gia cảnh có thể được điều chỉnh theo quy định hiện hành của cơ quan thuế tại từng thời kỳ.

Kiến thức này có trong đề thi tuyển dụng ngân hàng

Luyện thi với đề mô phỏng thực tế, chấm điểm tức thì

B
BIDV

Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung câu hỏi trên thithu.com chỉ mang tính chất luyện tập và tham khảo, không đại diện cho đề thi chính thức của bất kỳ tổ chức nào. Chúng tôi không chịu trách nhiệm về kết quả thi thực tế của người dùng.